Cách tính giá xuất kho trên MISA và kiểm tra kết quả


Cách tính giá xuất kho trên MISA là kiểm tra phương pháp đang dùng, mở chức năng tính giá trong phân hệ Kho, chọn phạm vi và thời gian rồi thực hiện. Sau khi chạy, bạn cần đối chiếu phiếu xuất với sổ kho để biết giá vốn đã cập nhật đúng chưa.
Nếu bạn đang học phần hành kho và cần tư vấn cách luyện trên MISA, Gọi 0931 144 858 để trao đổi với Kế Toán Sao Việt.
Trước hết, xác định sản phẩm đang dùng: MISA SME hay AMIS Kế toán. Tên nhóm chức năng có thể khác nhau. Nếu đang mở AMIS, hãy theo đường dẫn AMIS trong bài; không lấy vị trí nút trên SME làm chuẩn để tìm.
MISA SME 2026 đặt chức năng Tính giá xuất kho trên thanh tác nghiệp của phân hệ Kho. Một số bản SME khác có đường vào Nghiệp vụ → Kho → Tính giá xuất kho. Hãy đối chiếu tên phiên bản đang cài khi không thấy đúng vị trí.
Đường vào trên AMIS Kế toán là Kho → Quy trình → Tính giá xuất kho. Đọc tham số trên màn hình trước khi chọn; hướng dẫn cho eShop, MIMOSA hoặc Startbooks không thay thế được hướng dẫn của AMIS.
Ghi tên sản phẩm vào đầu bảng theo dõi. Một dòng như “SME, bình quân cuối kỳ, theo kho” giúp người hướng dẫn hiểu đúng tình huống. Nếu cần gửi câu hỏi hỗ trợ, kèm cả phiên bản đang cài và phương pháp tính giá.
Nguồn kỹ thuật: tài liệu “Tính giá xuất kho” trên cổng trợ giúp MISA SME 2026 và AMIS Kế toán (bản trực tuyến); đối chiếu văn bản ngày 23/10/2026. Bài không dựa trên lần thao tác trực tiếp trên phần mềm. Với AMIS, tên tham số cần đối chiếu lại trên giao diện đang dùng.
Trên SME 2026, vào Kho → Tính giá xuất kho; trên AMIS, vào Kho → Quy trình → Tính giá xuất kho. Chọn thời gian cùng tham số tương ứng phương pháp, nhấn Thực hiện rồi kiểm tra một phiếu xuất. Chuẩn bị dữ liệu và sao lưu trước khi chạy trên sổ đang làm thật.
Lưu lại tham số vừa chạy. Chỉ tính mã HH01 thì chưa thể xác nhận toàn bộ giá vốn tháng đã hoàn tất; báo cáo dùng để kiểm tra phải lọc đúng phạm vi đó. Nếu còn chứng từ bị cảnh báo, mở từng chứng từ để xử lý trước khi chuyển sang bước chốt kỳ.
Chức năng này xác định hoặc cập nhật đơn giá vốn và giá trị của các phiếu xuất thuộc phạm vi tính. Đơn giá vốn khác với giá bán trên hóa đơn: một bên phản ánh giá trị hàng xuất, bên kia phục vụ ghi nhận doanh thu.
Ví dụ giả định, một sản phẩm bán ra với giá 150.000 đồng nhưng có giá vốn 110.000 đồng. Khi tính lại giá xuất, điều cần kiểm là phần giá vốn của hàng xuất. Bạn không dùng giá bán 150.000 đồng để điền vào chỗ đang thiếu giá vốn.
Ở bình quân tức thời, FIFO và đích danh, giá được cập nhật khi ghi sổ phiếu xuất. Sửa hoặc chèn chứng từ trước các phiếu đã tính có thể khiến giá cũ cần cập nhật lại. Có đơn giá không đồng nghĩa đơn giá còn đúng.
Chạy xong chưa phải đã khớp. Lấy một phiếu xuất vừa cập nhật, xem giá trị của nó đi vào sổ kho thế nào rồi mới chuyển sang báo cáo tổng hợp. Nếu chưa giải thích được đơn giá, giữ lại câu hỏi đó để kiểm nguồn nhập thay vì chấp nhận số chỉ vì phần mềm đã báo hoàn tất.
Đầu vào cần đủ cả số lượng và giá trị, được ghi nhận đúng mã hàng, đúng kho và đúng ngày hạch toán. Chạy nhiều lần không khắc phục được một phiếu nhập vẫn thiếu giá trị.
Bắt đầu từ tồn kho đầu kỳ. Có lượng nhưng thiếu tiền? Hãy làm rõ căn cứ ghi nhận. Tiếp đó rà phiếu nhập, phiếu xuất, chú ý chứng từ nhập từ Excel hoặc vừa sửa nhưng chưa ghi sổ lại; đây là những dòng cần đối chiếu với hồ sơ gốc trước khi tính.
Mã hàng giống tên chưa chắc đã cùng mã. Trường hợp nhập vào mã HH01 nhưng xuất ở HH01A, bạn phải đối chiếu chứng từ để sửa đúng danh mục. Bài kiểm tra danh mục trước khi nhập chứng từ trên MISA giúp bạn rà phần này trước khi đi tiếp.
Dữ liệu đang làm thật cần ghi rõ kỳ nào đã chốt và ai phụ trách kiểm tra. Nếu cần đụng đến kỳ cũ, hãy trao đổi với người phụ trách trước khi sửa. Bản thực hành riêng sẽ phù hợp hơn để thử thay đổi một phiếu và quan sát tác động.
Phương pháp đang thiết lập quyết định cách tính đơn giá. Cùng dữ liệu nhập xuất, kết quả có thể khác nhau theo từng phương pháp. Không chọn lại phương pháp chỉ để kết quả trông giống một bảng tính khác.
Bình quân cuối kỳ xác định đơn giá bình quân cho kỳ tính. Còn bình quân tức thời cập nhật mức bình quân sau mỗi lần nhập, nên thứ tự nhập xuất ảnh hưởng đến giá của từng lần xuất. Khi tự tính để kiểm tra, bạn phải dùng công thức phù hợp với phương pháp đang áp dụng.
Nhập trước xuất trước, thường gọi là FIFO, tính giá theo các lớp hàng nhập trước còn lại. Với đích danh, cần xác định đúng nguồn hàng nhập được chọn cho lần xuất. Chỉ lấy tổng tiền chia tổng lượng có thể không giải thích được giá của hai phương pháp này.
Vị trí thiết lập phương pháp trên SME là Hệ thống → Tùy chọn → Vật tư hàng hóa. Việc đổi phương pháp trên dữ liệu liên tục nhiều năm có thể tác động đến số đã tính. Nếu doanh nghiệp cần thay đổi chính sách, người phụ trách cần xem xét riêng phạm vi dữ liệu và cách xử lý; bài hướng dẫn thao tác này không phải căn cứ để tự đổi.
Khoảng thời gian, kỳ tính giá và cách tính theo kho là các tham số khác nhau. Bạn cần đọc riêng từng mục để biết phần mềm sẽ cập nhật chứng từ nào và gom dữ liệu theo cách nào.
Ở AMIS Kế toán, khoảng thời gian là phạm vi cập nhật giá cho chứng từ. Căn cứ tính gồm chứng từ nhập, điều chỉnh và xuất có ngày hạch toán đến hết Đến ngày, kể cả chứng từ trước Từ ngày. Không chỉ lấy phát sinh nằm giữa hai mốc để tự tính rồi so với phần mềm. Kỳ tính giá chia khoảng đã chọn theo tháng, quý hoặc năm; nhiều tháng chưa đồng nghĩa dùng chung một đơn giá.
Tính theo kho nghĩa là tách cơ sở tính giá của từng kho. Nó khác việc chỉ chạy cho một kho cụ thể. Chức năng hiện được hướng dẫn trên AMIS tính cho các kho có phát sinh trong kỳ, không hỗ trợ chọn riêng một kho để chạy.
Ví dụ tự dựng: kho A có 10 sản phẩm, tổng giá trị 1.000.000 đồng; kho B có 10 sản phẩm, tổng giá trị 1.400.000 đồng. Nếu tách theo kho, mức giá tương ứng là 100.000 và 140.000 đồng. Nếu gộp hai kho trong tình huống đơn giản này, giá bình quân là 120.000 đồng.
Riêng bình quân cuối kỳ trên AMIS, dữ liệu đa chi nhánh có thể tính chung các chi nhánh phụ thuộc hoặc riêng từng chi nhánh theo thiết lập Vật tư hàng hóa. Bình quân tức thời tính độc lập từng chi nhánh; FIFO độc lập từng kho, từng chi nhánh. Đừng áp dụng tùy chọn gộp của bình quân cuối kỳ cho hai phương pháp này.
Phép kiểm bình quân cuối kỳ là lấy tổng giá trị hàng sẵn có trong kỳ chia tổng số lượng tương ứng. Ví dụ dưới đây là số liệu giả định để luyện tập, chỉ có một mã hàng tại một kho, không có hàng trả lại hoặc điều chỉnh.
| Khoản mục | Số lượng | Giá trị |
|---|---|---|
| Tồn đầu kỳ | 100 sản phẩm | 10.000.000 đồng |
| Nhập trong kỳ | 100 sản phẩm | 12.000.000 đồng |
| Tổng để tính bình quân | 200 sản phẩm | 22.000.000 đồng |
Đơn giá bình quân là 22.000.000 ÷ 200 = 110.000 đồng mỗi sản phẩm. Nếu tổng lượng xuất trong kỳ là 120 sản phẩm, giá trị xuất bằng 120 × 110.000 = 13.200.000 đồng. Lượng tồn cuối là 80 sản phẩm, tương ứng 8.800.000 đồng.
Hai phép kiểm nên khớp: 100 + 100 − 120 = 80 sản phẩm; 10.000.000 + 12.000.000 − 13.200.000 = 8.800.000 đồng. Đối chiếu cả lượng lẫn tiền giúp bạn tránh trường hợp chỉ nhìn tổng tiền có vẻ hợp lý rồi bỏ qua sai mã hàng.
Mở sổ chi tiết để dò phát sinh thực tế. Có phiếu nhập bổ sung hoặc chi phí được đưa vào giá trị nhập thì phải tính lại phép kiểm tay. Mức 110.000 đồng chỉ đúng với bộ số giả định 200 sản phẩm trị giá 22.000.000 đồng, không phải đơn giá mặc định cho hàng hóa trên MISA.
Bình quân tức thời và FIFO có thể cho giá vốn khác nhau vì cách dùng giá nhập khác nhau. Tình huống sau là số liệu giả định tại một kho, không có điều chỉnh hay hàng trả lại.
Đầu kỳ có 100 sản phẩm giá 100.000 đồng. Xuất 60 sản phẩm trước, sau đó nhập 100 sản phẩm giá 120.000 đồng, rồi xuất tiếp 60 sản phẩm. Các nghiệp vụ diễn ra lần lượt trong cùng kỳ; không có phát sinh nào khác.
Lần xuất đầu có giá trị 60 × 100.000 = 6.000.000 đồng. Sau lần xuất này, còn 40 sản phẩm trị giá 4.000.000 đồng. Khi nhập thêm, đơn giá bình quân mới là (4.000.000 + 12.000.000) ÷ (40 + 100), xấp xỉ 114.285,714 đồng.
Lần xuất thứ hai có giá trị khoảng 6.857.143 đồng. Tổng giá trị xuất khoảng 12.857.143 đồng, tồn cuối khoảng 9.142.857 đồng. Đây là kết quả làm tròn đến đồng; khi đối chiếu từng dòng, cần xem thiết lập số lẻ của dữ liệu.
Theo FIFO, lần xuất đầu vẫn là 6.000.000 đồng. Lần xuất thứ hai gồm 40 sản phẩm còn lại của lớp đầu kỳ và 20 sản phẩm thuộc lần nhập mới. Giá trị lần này là 40 × 100.000 + 20 × 120.000 = 6.400.000 đồng.
| Phương pháp | Tổng giá trị xuất | Giá trị tồn cuối |
|---|---|---|
| Bình quân cuối kỳ | 13.200.000 đồng | 8.800.000 đồng |
| Bình quân tức thời | Khoảng 12.857.143 đồng | Khoảng 9.142.857 đồng |
| Nhập trước xuất trước | 12.400.000 đồng | 9.600.000 đồng |
Cả ba cách đều còn 80 sản phẩm và có tổng giá trị xuất cộng tồn cuối bằng 22.000.000 đồng. Chênh lệch giữa các cách không tự chứng minh có lỗi. Khi so với MISA, trước hết xác nhận bạn đang so cùng phương pháp.
Kết quả cần được kiểm từ một phiếu xuất cụ thể đến báo cáo tổng hợp, thay vì chỉ nhìn thông báo hoàn tất. Hãy chọn một mã hàng có ít nghiệp vụ để lần kiểm đầu tiên dễ theo dõi.
| Nơi kiểm | Nội dung cần khớp | Khi chưa khớp |
|---|---|---|
| Phiếu xuất | Mã, lượng, đơn giá vốn, thành tiền | Kiểm nguồn nhập và phạm vi tính |
| Sổ chi tiết vật tư hàng hóa | Nhập, xuất, tồn theo đúng kho | Dò dòng phát sinh đầu tiên bị lệch |
| Tổng hợp tồn kho và Sổ cái | Giá trị cùng tài khoản, cùng kỳ | Rà bộ lọc và chứng từ hạch toán |
Sổ kho cần thỏa mãn quan hệ tồn cuối = tồn đầu + nhập − xuất cho cả số lượng và giá trị. Đọc từng cột theo cùng đơn vị tính. Đừng cộng số lượng thùng với số lượng cái khi chưa quy đổi về cùng đơn vị.
Khi so Tổng hợp tồn kho với Sổ cái, xác nhận cùng ngày kết thúc, phạm vi chi nhánh và tài khoản hàng tồn kho tương ứng. Nếu báo cáo kho gồm cả hàng hóa lẫn nguyên vật liệu mà Sổ cái chỉ mở tài khoản hàng hóa, hai tổng chưa có cùng cơ sở để so.
Một cách dò dễ hơn là đi từ đầu kỳ. Đầu kỳ khớp thì chuyển sang nhập, rồi đến xuất. Khoanh vùng được phần lệch sẽ giảm số chứng từ cần mở. Với bài tập, bạn có thể ghi cạnh mỗi tổng số chứng từ tạo nên nó để luyện cách giải thích số liệu.
Khi phiếu xuất chưa lên giá, kiểm lần lượt: lượng và tiền tồn đầu cùng nguồn nhập → tồn âm theo thời điểm → đơn vị quy đổi → phạm vi tính và tùy chọn trên phiếu. Khoanh một mã hàng, một phiếu xuất để dò. Chạy lại ngay chưa giải quyết được nguyên nhân.
Kiểm tra tồn đầu kỳ và phiếu nhập được dùng làm nguồn xuất. Nếu hàng có lượng nhưng chưa có đơn giá hoặc thành tiền phù hợp, cần bổ sung theo chứng từ gốc. Với thành phẩm, kiểm tra giá trị nhập đã được cập nhật từ bước tính giá thành chưa.
Mở Sổ chi tiết vật tư hàng hóa tại đúng kho, dò thời điểm lượng tồn bắt đầu âm. Tồn cuối tháng dương không có nghĩa mọi thời điểm trong tháng đều đủ hàng. Đối chiếu thứ tự chứng từ, ngày hạch toán và tỷ lệ đơn vị chuyển đổi nếu có.
Một ví dụ về sai quy đổi: phiếu nhập ghi 10 thùng, mỗi thùng 12 cái, nhưng phiếu xuất dùng tỷ lệ 10 cái một thùng. Cần xác minh quy cách thực tế và chứng từ rồi sửa đúng tỷ lệ. Không thêm phiếu nhập giả để làm lượng tồn hết âm.
Trên SME, một phiếu có thể đang chọn Không cập nhật giá xuất. Kiểm tra lựa chọn đó và lý do người nhập đã dùng trước khi bỏ chọn. Với đích danh, kiểm tra thêm nguồn nhập được chọn. Nếu vẫn chưa rõ, ghi lại mã hàng, số phiếu và tham số để người phụ trách hỗ trợ đúng tình huống.
Sau khi sửa chứng từ cũ, cần xem xét lại giá của những lần xuất chịu ảnh hưởng từ thời điểm thay đổi. Chỉ chạy tháng hiện tại có thể bỏ sót phần giá vốn đã thay đổi ở tháng trước.
Chẳng hạn, trong dữ liệu thực hành, bạn sửa giá trị một phiếu nhập tháng trước sau khi đã tính giá tháng sau. Hãy lưu báo cáo trước sửa, xác định phạm vi liên quan rồi tính lại theo trình tự thời gian. Sau đó đối chiếu từng kỳ, không chỉ tháng có phiếu vừa sửa.
Hàng bán trả lại và chuyển kho cần được xem trong mối liên hệ với chứng từ nguồn. Với một số trường hợp lắp ráp hoặc thành phẩm, giá nhập còn liên quan đến bước xử lý khác. Đừng dùng một lần chạy tính giá để thay cho việc kiểm tra toàn bộ chuỗi chứng từ.
Ghi lại thay đổi nào làm giá vốn tăng hoặc giảm trước khi chốt. Nếu số liệu kỳ đó đã được sử dụng trong báo cáo, người phụ trách cần đánh giá phần việc liên quan trước khi cập nhật. Bạn có thể dùng bảng kiểm quy trình kế toán cuối tháng để đặt bước tính giá vào đúng thứ tự công việc.
Hồ sơ lưu nên có báo cáo trước và sau, cùng ghi chú ngắn về nguyên nhân. Một câu cụ thể như “bổ sung giá trị phiếu nhập còn thiếu” hữu ích hơn dòng “đã sửa số”. Người kiểm tra sau sẽ lần được từ thay đổi đến chứng từ.
Luyện phần hành kho trên MISA cần gắn thao tác với phép kiểm giá vốn. Bấm xong chưa đủ. Một bài tập hữu ích phải cho phép bạn tìm từ số lệch trên báo cáo về chứng từ tạo ra chênh lệch đó.
Dùng dữ liệu thực hành riêng: tồn đầu 100 sản phẩm trị giá 10.000.000 đồng, nhập 100 sản phẩm trị giá 12.000.000 đồng, xuất 120 sản phẩm. Theo bình quân cuối kỳ, giá xuất là 13.200.000 đồng, tồn cuối 8.800.000 đồng. Thử sửa giá trị nhập rồi dự đoán tác động trước khi tính lại.
Buổi luyện tiếp theo, thêm một tình huống sai mã kho hoặc tỷ lệ chuyển đổi. Nhiệm vụ là tìm chứng từ gây lệch từ báo cáo, sửa theo căn cứ rồi kiểm tra lại. Đây là cách tự kiểm kiến thức; bạn có thể dùng các bước này để trao đổi nhu cầu học, không cần suy ra một số buổi cố định.
Nếu cần người hướng dẫn, bạn có thể xem khóa thực hành kế toán trên MISA của Kế Toán Sao Việt. Trung tâm tổ chức học 1 kèm 1, không giới hạn số buổi; lịch Thứ 2-4-6 hoặc 3-5-7, 5 ca/ngày, không học Chủ nhật. Địa chỉ: Tầng 1, Số 193 Đ. Nguyễn Xí, phường Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh (Quận Bình Thạnh cũ).
Thông tin học phí được hướng dẫn tại trang học phí và tư vấn lộ trình. Khi trao đổi, nói rõ bạn cần học phần kho hay cả quy trình kế toán tổng hợp. Kết quả học phụ thuộc nền tảng và thời gian luyện tập của mỗi người.
Để hỏi lộ trình phù hợp với phần hành bạn đang làm, Gọi 0931 144 858 và mô tả mức độ sử dụng MISA hiện tại.
Tần suất chạy và phạm vi tính lại phụ thuộc phương pháp, dữ liệu phát sinh và những chứng từ vừa thay đổi. Bạn có thể dùng các câu hỏi dưới đây để tự kiểm trước khi đóng kỳ.
Không có một lịch chạy chung cho mọi doanh nghiệp. Với phương pháp cập nhật giá khi ghi sổ, cần chú ý việc sửa hoặc chèn chứng từ trước đó. Với bình quân cuối kỳ, đặt bước tính và đối chiếu vào quy trình chốt kỳ đang áp dụng.
Không cần chọn lại phương pháp mỗi lần chạy; giữ phương pháp doanh nghiệp đang áp dụng. Cùng tồn đầu 100 sản phẩm giá 100.000 đồng và nhập 100 sản phẩm giá 120.000 đồng, xuất 60 trước nhập rồi 60 sau nhập cho tổng giá vốn FIFO 12.400.000 đồng, khác bình quân cuối kỳ 13.200.000 đồng. Chênh lệch này xuất phát từ phương pháp.
Cần xét ảnh hưởng sang kỳ sau, vì tồn cuối kỳ trước trở thành tồn đầu kỳ tiếp theo. Xác định phạm vi từ chứng từ đã sửa, lưu báo cáo để so sánh và trao đổi với người phụ trách nếu liên quan số đã chốt.
Trước khi đóng kỳ, bạn nên giải thích được ba điểm: đang dùng phương pháp nào, đã tính cho phạm vi nào và giá trị xuất khớp với sổ kho ra sao. Giữ thói quen này sẽ giúp việc kiểm tra cuối tháng có căn cứ rõ ràng.
Cần tư vấn cách luyện từ chứng từ đến báo cáo tại Kế Toán Sao Việt? Gọi 0931 144 858 để trao đổi phần bạn đang vướng.
Thực hành theo một tình huống cụ thể, tự kiểm tra kết quả và ghi lại những điểm cần làm rõ.
Gợi ý thực hành


Đọc chứng từ, giải thích cách xử lý và đối chiếu số liệu là các bước cần đi cùng nhau. Bạn có thể trao đổi nền tảng và mục tiêu để chọn lộ trình thực hành phù hợp.